Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ
Pháp chiếm Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên, hoàn tất việc biến toàn bộ Nam Kỳ thành thuộc địa.
Pháp chiếm Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên, hoàn tất việc biến toàn bộ Nam Kỳ thành thuộc địa.
Vụ phun trào dữ dội của Krakatoa ở eo biển Sunda gây sóng thần làm hơn 36.000 người thiệt mạng; tiếng nổ được nghe thấy cách xa hàng nghìn kilômét.
Hòa ước đặt Bắc Kỳ và Trung Kỳ dưới chế độ bảo hộ của Pháp.
Anh chiếm Mandalay và phế truất vua Thibaw, chấm dứt nhà Konbaung và sáp nhập toàn bộ Miến Điện vào Ấn Độ thuộc Anh.
Sau cuộc tấn công thất bại vào quân Pháp ở Huế, vua Hàm Nghi xuất bôn và ban chiếu Cần Vương kêu gọi kháng Pháp.
Pháp lập Liên bang Đông Dương gồm Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ và Campuchia; Lào được sáp nhập năm 1893.
Nguyễn Sinh Cung, sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh, sinh tại Nghệ An.
Lãnh tụ khởi nghĩa Hương Khê Phan Đình Phùng qua đời, đánh dấu sự kết thúc của phong trào Cần Vương.
Nhà văn và nhà yêu nước Philippines José Rizal bị chính quyền thực dân Tây Ban Nha xử bắn ở Manila, thúc đẩy cuộc Cách mạng Philippines.
Hoa Kỳ đánh bại Tây Ban Nha, giành quyền kiểm soát Puerto Rico, Guam và Philippines, còn Cuba thoát khỏi ách cai trị của Tây Ban Nha.
Emilio Aguinaldo tuyên bố Philippines độc lập khỏi Tây Ban Nha tại Kawit, Cavite.
Sau khi Tây Ban Nha nhượng Philippines cho Mỹ, lực lượng Cộng hòa Philippines chiến đấu chống sự chiếm đóng của Mỹ nhưng thất bại.
Phan Bội Châu tổ chức đưa thanh niên Việt Nam sang Nhật Bản du học nhằm chuẩn bị lực lượng giành độc lập.
Các nhà nho yêu nước mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội, cổ động tân học và chữ Quốc ngữ; trường bị Pháp đóng cửa cuối năm đó.
Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh) rời bến Nhà Rồng, Sài Gòn, làm phụ bếp trên tàu Amiral Latouche-Tréville sang Pháp.
Võ Nguyên Giáp, về sau là Đại tướng, Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, sinh tại Quảng Bình.
Đạo Cao Đài, một tôn giáo hỗn dung, chính thức thành lập ở Nam Kỳ với Tòa Thánh đặt tại Tây Ninh.
Nhà cải cách Phan Châu Trinh mất ở Sài Gòn; đám tang của ông trở thành cuộc biểu dương lòng yêu nước rộng khắp.
Nguyễn Thái Học và các đồng chí lập Việt Nam Quốc dân Đảng ở Hà Nội nhằm giành độc lập bằng vũ lực.
Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản do Nguyễn Ái Quốc chủ trì tại Hồng Kông thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Lính Việt trong quân đội thuộc địa do Việt Nam Quốc dân Đảng tổ chức nổi dậy ở Yên Bái; cuộc khởi nghĩa thất bại và Nguyễn Thái Học bị xử tử.
Đảng Nhân dân (Khana Ratsadon) đảo chính không đổ máu, chuyển Xiêm từ quân chủ chuyên chế sang quân chủ lập hiến.
Nhà yêu nước Phan Bội Châu qua đời ở Huế sau nhiều năm bị Pháp quản thúc.
Quân Nhật tấn công Lạng Sơn và đổ bộ Hải Phòng, buộc chính quyền Pháp chấp nhận cho Nhật đóng quân ở Bắc Kỳ.
Hội nghị Trung ương 8 do Hồ Chí Minh chủ trì ở Pác Bó lập Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh).
Quân Anh ở Singapore đầu hàng Nhật Bản, thất bại quân sự lớn nhất trong lịch sử nước Anh, mở đầu thời kỳ Nhật chiếm đóng Malaya.
Nạn đói ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ dưới thời Pháp – Nhật làm chết khoảng từ 400.000 đến 2 triệu người theo các ước tính khác nhau.
Nhật Bản lật đổ chính quyền Pháp ở Đông Dương; sau đó Bảo Đại tuyên bố độc lập và thành lập Đế quốc Việt Nam với chính phủ Trần Trọng Kim.
Bảo Đại, hoàng đế cuối cùng của nhà Nguyễn, thoái vị và trao ấn kiếm cho chính quyền cách mạng tại Huế, chấm dứt chế độ quân chủ.
Sukarno và Mohammad Hatta đọc tuyên ngôn độc lập của Indonesia tại Jakarta, mở đầu cuộc cách mạng chống Hà Lan.
Việt Minh giành chính quyền ở Hà Nội ngày 19 tháng 8, sau đó ở Huế và Sài Gòn; vua Bảo Đại thoái vị cuối tháng 8.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Theo Hiệp ước Manila, Mỹ công nhận nền độc lập của Cộng hòa Philippines.
Chiến tranh giữa Việt Minh và Pháp bùng nổ toàn quốc ở Hà Nội, kéo dài đến khi ký Hiệp định Genève năm 1954.
Liên bang Miến Điện giành độc lập khỏi Anh và chọn không gia nhập Khối Thịnh vượng chung.
Pháp thành lập Quốc gia Việt Nam trong Liên hiệp Pháp với cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng.
Sau Hội nghị Bàn tròn ở La Haye, Hà Lan chính thức chuyển giao chủ quyền cho Hợp chúng quốc Indonesia, kết thúc Cách mạng Quốc gia Indonesia.
Chiến dịch cải cách ruộng đất ở miền Bắc phân chia lại đất đai, kèm nhiều vụ xử bắn và bị chính quyền thừa nhận sai lầm, phải sửa sai năm 1956.
Trong thời gian 300 ngày tự do đi lại sau Hiệp định Genève, khoảng 800.000 đến 1 triệu người, phần lớn là người Công giáo, di cư từ Bắc vào Nam.
Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của Pháp. Chiến thắng ngày 7/5 dẫn tới Hiệp định Genève.
Hội nghị Genève chấm dứt chiến tranh Đông Dương, tạm thời chia Việt Nam tại vĩ tuyến 17 và dự kiến tổng tuyển cử năm 1956.
Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp quản Hà Nội sau khi quân Pháp rút đi theo Hiệp định Genève.
Đại diện 29 quốc gia châu Á và châu Phi họp tại Bandung, cổ vũ hợp tác Á – Phi và phản đối chủ nghĩa thực dân, tiền thân của Phong trào Không liên kết.
Sau cuộc trưng cầu dân ý ngày 23/10 phế truất Bảo Đại, Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập Việt Nam Cộng hòa và làm Tổng thống.
Cuộc chiến giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Việt Nam Cộng hòa được Hoa Kỳ và đồng minh hậu thuẫn, kết thúc khi Sài Gòn thất thủ năm 1975.
Tunku Abdul Rahman tuyên bố độc lập của Liên bang Malaya khỏi Anh tại sân vận động Merdeka ở Kuala Lumpur.
Bắc Việt Nam lập Đoàn 559 để xây dựng tuyến tiếp tế xuyên dãy Trường Sơn qua Lào và Campuchia vào miền Nam.
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (Việt Cộng) được thành lập để chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
Không quân Hoa Kỳ rải chất diệt cỏ, trong đó có chất độc da cam chứa dioxin, trên diện rộng ở miền Nam Việt Nam, để lại hậu quả lâu dài về sức khỏe và môi trường.
Lực lượng Việt Cộng nhỏ hơn đẩy lui cuộc tấn công của Quân lực Việt Nam Cộng hòa có cố vấn Mỹ hỗ trợ ở Mỹ Tho.