Truyền thuyết lập nước Văn Lang của các Vua Hùng
Theo truyền thống sử học Việt Nam, Kinh Dương Vương lập nhà Hồng Bàng năm 2879 TCN; các Vua Hùng trị vì nước Văn Lang. Niên đại này mang tính truyền thuyết.
Quốc gia / Đông Nam Á
151 sự kiện lịch sử nổi bật của Việt Nam, sắp xếp theo dòng thời gian.
Theo truyền thống sử học Việt Nam, Kinh Dương Vương lập nhà Hồng Bàng năm 2879 TCN; các Vua Hùng trị vì nước Văn Lang. Niên đại này mang tính truyền thuyết.
Nền văn hóa thời đại đồng thau – sắt sớm ở đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ, nổi tiếng với trống đồng.
Thục Phán (An Dương Vương) hợp nhất Âu Việt và Lạc Việt, lập nước Âu Lạc và xây thành Cổ Loa. Niên đại 257 TCN theo truyền thống.
Triệu Đà, vua nước Nam Việt, đánh chiếm Âu Lạc, sáp nhập vào Nam Việt; sử cũ thường ghi năm 179 TCN.
Nhà Hán diệt nước Nam Việt năm 111 TCN và đặt các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, mở đầu thời kỳ Bắc thuộc lâu dài.
Trưng Trắc và Trưng Nhị khởi nghĩa chống nhà Đông Hán, giành quyền tự chủ cho Giao Chỉ. Trưng Trắc xưng vương.
Phù Nam nổi lên ở hạ lưu sông Mê Kông, trở thành trung tâm thương mại hàng hải giữa Ấn Độ và Trung Quốc.
Khu Liên nổi dậy chống nhà Hán ở quận Nhật Nam, lập nước Lâm Ấp, tiền thân của vương quốc Chăm Pa ở miền Trung Việt Nam.
Triệu Thị Trinh lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ của nhà Đông Ngô ở Cửu Chân.
Sau khi đánh đuổi quân nhà Lương, Lý Bí xưng Lý Nam Đế và đặt quốc hiệu là Vạn Xuân.
Mai Thúc Loan nổi dậy chống nhà Đường ở Hoan Châu, xưng đế (Mai Hắc Đế) trước khi bị đàn áp.
Nhân lúc nhà Đường suy yếu, hào trưởng Khúc Thừa Dụ chiếm phủ thành Tống Bình, tự xưng Tiết độ sứ, mở đầu thời kỳ tự chủ.
Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng bằng trận địa cọc ngầm, chấm dứt hơn một nghìn năm Bắc thuộc.
Sau chiến thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa, mở đầu thời kỳ độc lập lâu dài.
Sau khi nhà Ngô suy vi, đất nước bị chia cắt giữa các sứ quân cho đến khi Đinh Bộ Lĩnh thống nhất năm 968.
Ngô Quyền mất; triều Ngô suy yếu do tranh chấp nội bộ.
Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, lên ngôi hoàng đế, đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt và đóng đô ở Hoa Lư.
Hoàng đế Đinh Tiên Hoàng và thái tử Đinh Liễn bị Đỗ Thích sát hại tại kinh đô Hoa Lư.
Trước nguy cơ nhà Tống xâm lược, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn được tôn lên ngôi hoàng đế, lập nhà Tiền Lê.
Quân Đại Cồ Việt do Lê Hoàn chỉ huy đánh bại cuộc xâm lược của nhà Tống, trong đó có trận trên sông Bạch Đằng.
Lý Công Uẩn được triều thần tôn lên ngôi, lập nhà Lý, triều đại kéo dài hơn hai thế kỷ.
Lý Công Uẩn ban Chiếu dời đô, chuyển kinh đô từ Hoa Lư về Đại La và đổi tên thành Thăng Long, nay là Hà Nội.
Vua Lý Thái Tông cho dựng chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) ở Thăng Long, một biểu tượng của Hà Nội.
Vua Lý Thánh Tông đổi quốc hiệu từ Đại Cồ Việt thành Đại Việt, tên gọi được dùng trong hầu hết các thế kỷ sau.
Vua Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu ở Thăng Long để thờ Khổng Tử, đánh dấu sự đề cao Nho học.
Vua Lý Nhân Tông mở khoa thi Minh kinh bác học, khoa thi đầu tiên tuyển chọn quan lại; Lê Văn Thịnh đỗ đầu.
Để phá thế chuẩn bị xâm lược của nhà Tống, Lý Thường Kiệt đem quân đánh các châu Khâm, Liêm và Ung (1075–1076).
Nhà Lý lập Quốc Tử Giám bên cạnh Văn Miếu, được coi là trường đại học đầu tiên của Việt Nam.
Lý Thường Kiệt chặn đứng cuộc xâm lược của nhà Tống trên sông Như Nguyệt (sông Cầu). Theo truyền thống, bài thơ "Nam quốc sơn hà" gắn với trận đánh này.
Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh (Trần Thái Tông); quyền lực thực tế nằm trong tay Trần Thủ Độ.
Quân Mông Cổ do Uriyangqadai chỉ huy tiến vào Thăng Long nhưng phải rút lui sau trận Đông Bộ Đầu.
Sử gia Lê Văn Hưu hoàn thành bộ Đại Việt sử ký, bộ quốc sử chính thức đầu tiên của Việt Nam.
Quân Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy xâm lược Đại Việt; dưới sự lãnh đạo của Trần Hưng Đạo, quân Trần phản công và đẩy lui quân xâm lược.
Trần Hưng Đạo tiêu diệt thủy quân Nguyên – Mông trên sông Bạch Đằng, kết thúc lần xâm lược thứ ba của nhà Nguyên.
Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, vị chỉ huy ba lần kháng chiến chống Nguyên Mông, qua đời.
Công chúa Huyền Trân được gả cho vua Chế Mân của Chăm Pa; đổi lại Đại Việt nhận hai châu Ô, Lý (vùng Quảng Trị – Thừa Thiên Huế).
Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông, người sáng lập Thiền phái Trúc Lâm, viên tịch trên núi Yên Tử.
Quân Chăm Pa do Chế Bồng Nga chỉ huy tiến vào cướp phá kinh thành Thăng Long.
Nguyễn Trãi, nhà tư tưởng, nhà thơ và mưu sĩ của khởi nghĩa Lam Sơn, ra đời.
Hồ Quý Ly cho xây thành Tây Đô bằng đá ở Thanh Hóa; công trình được UNESCO công nhận là Di sản thế giới năm 2011.
Hồ Quý Ly phế truất vua Trần, lập nhà Hồ, đổi quốc hiệu là Đại Ngu và tiến hành nhiều cải cách.
Quân Minh đánh bại nhà Hồ (1406–1407) và sáp nhập đất Việt thành quận Giao Chỉ, mở đầu thời kỳ thuộc Minh.
Lê Lợi dấy binh ở Lam Sơn (Thanh Hóa) chống ách đô hộ nhà Minh; cuộc khởi nghĩa kéo dài mười năm và giành lại độc lập.
Nghĩa quân Lam Sơn đánh bại lớn quân Minh của Vương Thông ở phía tây nam Đông Quan.
Nghĩa quân Lam Sơn tiêu diệt đạo viện binh nhà Minh; chủ tướng Liễu Thăng tử trận, buộc quân Minh phải rút khỏi Đại Việt.
Khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng. Lê Lợi lên ngôi, lập ra nhà Hậu Lê, và Nguyễn Trãi soạn "Bình Ngô đại cáo".
Lê Lợi lên ngôi hoàng đế (Lê Thái Tổ) tại Thăng Long, khôi phục quốc hiệu Đại Việt và lập nhà Hậu Lê.
Lê Thái Tổ, người lãnh đạo khởi nghĩa Lam Sơn và sáng lập nhà Hậu Lê, qua đời.
Sau cái chết đột ngột của vua Lê Thái Tông tại Lệ Chi Viên, Nguyễn Trãi bị kết tội và cùng gia tộc bị xử tử.
Lê Thánh Tông lên ngôi; triều đại của ông (1460–1497) được coi là thời thịnh trị của Đại Việt với nhiều cải cách hành chính và luật pháp.
Quân Đại Việt chiếm kinh đô Vijaya của Chăm Pa, sáp nhập phần lớn lãnh thổ phía bắc của Chăm Pa vào Đại Việt.
Sử thần Ngô Sĩ Liên hoàn thành bộ Đại Việt sử ký toàn thư, bộ chính sử quan trọng nhất của Việt Nam thời phong kiến.
Mạc Đăng Dung buộc vua Lê nhường ngôi và lập nhà Mạc.
Các cựu thần nhà Lê do Nguyễn Kim đứng đầu lập Lê Trang Tông ở Thanh Hóa, mở đầu cuộc chiến Nam – Bắc triều với nhà Mạc.
Nguyễn Hoàng xin vào trấn thủ Thuận Hóa, đặt nền móng cho thế lực các chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
Quân Lê – Trịnh do Trịnh Tùng chỉ huy chiếm lại Thăng Long từ nhà Mạc; họ Mạc rút lên Cao Bằng.
Cuộc chiến kéo dài giữa chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong, kết thúc với ranh giới sông Gianh chia đôi đất nước.
Giáo sĩ Alexandre de Rhodes xuất bản tại Rôma cuốn từ điển Việt – Bồ – La, mốc quan trọng trong sự hình thành chữ Quốc ngữ.
Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn cử vào kinh lược, lập phủ Gia Định; năm này thường được coi là mốc hình thành Sài Gòn.
Đại thi hào Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều, ra đời.
Ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ dấy binh ở Tây Sơn (Bình Định), về sau lật đổ cả chúa Nguyễn lẫn chúa Trịnh.
Nguyễn Huệ đánh tan quân Xiêm La sang can thiệp theo lời cầu viện của Nguyễn Ánh trên sông Tiền.
Trước khi tiến quân ra Bắc đánh quân Thanh, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế ở Phú Xuân, niên hiệu Quang Trung.
Hoàng đế Quang Trung đại phá quân Thanh vào dịp Tết Kỷ Dậu và giải phóng Thăng Long.
Hoàng đế Quang Trung đột ngột qua đời ở tuổi khoảng 39; nhà Tây Sơn suy yếu nhanh chóng sau đó.
Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn, lên ngôi lấy niên hiệu Gia Long và lập ra triều Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam.
Vua Gia Long đặt quốc hiệu là Việt Nam sau khi được nhà Thanh chấp thuận.
Nguyễn Du viết Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều), truyện thơ lục bát 3.254 câu, được coi là kiệt tác của văn học Việt Nam. Niên đại sáng tác chính xác chưa xác định.
Vua Gia Long, người sáng lập nhà Nguyễn, qua đời; con là Minh Mạng kế vị và tiếp tục củng cố nhà nước tập quyền.
Đại thi hào Nguyễn Du qua đời ở Huế.
Lê Văn Khôi chiếm thành Phiên An (Gia Định) chống triều đình Minh Mạng; cuộc nổi dậy bị dập tắt năm 1835.
Liên quân Pháp – Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng, mở đầu quá trình Pháp xâm lược Việt Nam.
Triều Nguyễn ký hòa ước nhượng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp.
Pháp chiếm Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên, hoàn tất việc biến toàn bộ Nam Kỳ thành thuộc địa.
Hòa ước đặt Bắc Kỳ và Trung Kỳ dưới chế độ bảo hộ của Pháp.
Sau cuộc tấn công thất bại vào quân Pháp ở Huế, vua Hàm Nghi xuất bôn và ban chiếu Cần Vương kêu gọi kháng Pháp.
Pháp lập Liên bang Đông Dương gồm Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ và Campuchia; Lào được sáp nhập năm 1893.
Nguyễn Sinh Cung, sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh, sinh tại Nghệ An.
Lãnh tụ khởi nghĩa Hương Khê Phan Đình Phùng qua đời, đánh dấu sự kết thúc của phong trào Cần Vương.
Phan Bội Châu tổ chức đưa thanh niên Việt Nam sang Nhật Bản du học nhằm chuẩn bị lực lượng giành độc lập.
Các nhà nho yêu nước mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội, cổ động tân học và chữ Quốc ngữ; trường bị Pháp đóng cửa cuối năm đó.
Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh) rời bến Nhà Rồng, Sài Gòn, làm phụ bếp trên tàu Amiral Latouche-Tréville sang Pháp.
Võ Nguyên Giáp, về sau là Đại tướng, Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, sinh tại Quảng Bình.
Đạo Cao Đài, một tôn giáo hỗn dung, chính thức thành lập ở Nam Kỳ với Tòa Thánh đặt tại Tây Ninh.
Nhà cải cách Phan Châu Trinh mất ở Sài Gòn; đám tang của ông trở thành cuộc biểu dương lòng yêu nước rộng khắp.
Nguyễn Thái Học và các đồng chí lập Việt Nam Quốc dân Đảng ở Hà Nội nhằm giành độc lập bằng vũ lực.
Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản do Nguyễn Ái Quốc chủ trì tại Hồng Kông thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Lính Việt trong quân đội thuộc địa do Việt Nam Quốc dân Đảng tổ chức nổi dậy ở Yên Bái; cuộc khởi nghĩa thất bại và Nguyễn Thái Học bị xử tử.
Nhà yêu nước Phan Bội Châu qua đời ở Huế sau nhiều năm bị Pháp quản thúc.
Quân Nhật tấn công Lạng Sơn và đổ bộ Hải Phòng, buộc chính quyền Pháp chấp nhận cho Nhật đóng quân ở Bắc Kỳ.
Hội nghị Trung ương 8 do Hồ Chí Minh chủ trì ở Pác Bó lập Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh).
Nạn đói ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ dưới thời Pháp – Nhật làm chết khoảng từ 400.000 đến 2 triệu người theo các ước tính khác nhau.
Nhật Bản lật đổ chính quyền Pháp ở Đông Dương; sau đó Bảo Đại tuyên bố độc lập và thành lập Đế quốc Việt Nam với chính phủ Trần Trọng Kim.
Bảo Đại, hoàng đế cuối cùng của nhà Nguyễn, thoái vị và trao ấn kiếm cho chính quyền cách mạng tại Huế, chấm dứt chế độ quân chủ.
Việt Minh giành chính quyền ở Hà Nội ngày 19 tháng 8, sau đó ở Huế và Sài Gòn; vua Bảo Đại thoái vị cuối tháng 8.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Chiến tranh giữa Việt Minh và Pháp bùng nổ toàn quốc ở Hà Nội, kéo dài đến khi ký Hiệp định Genève năm 1954.
Pháp thành lập Quốc gia Việt Nam trong Liên hiệp Pháp với cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng.
Chiến dịch cải cách ruộng đất ở miền Bắc phân chia lại đất đai, kèm nhiều vụ xử bắn và bị chính quyền thừa nhận sai lầm, phải sửa sai năm 1956.
Trong thời gian 300 ngày tự do đi lại sau Hiệp định Genève, khoảng 800.000 đến 1 triệu người, phần lớn là người Công giáo, di cư từ Bắc vào Nam.