Biên soạn sách Domesday
Vua William I cho tiến hành cuộc khảo sát đất đai và tài sản lớn trên khắp nước Anh, được ghi lại trong sách Domesday.
Vua William I cho tiến hành cuộc khảo sát đất đai và tài sản lớn trên khắp nước Anh, được ghi lại trong sách Domesday.
Vua John của Anh đóng dấu Magna Carta tại Runnymede, giới hạn quyền lực của nhà vua bằng luật pháp.
Quốc hội Anh thông qua Đạo luật Tối thượng, tuyên bố vua Henry VIII là người đứng đầu tối cao của Giáo hội Anh, đoạn tuyệt với quyền lực của Giáo hoàng.
Nữ hoàng Elizabeth I cấp hiến chương cho Công ty Đông Ấn, tổ chức về sau chi phối phần lớn tiểu lục địa Ấn Độ.
Người Anh lập khu định cư Jamestown ở Virginia, khu định cư lâu dài đầu tiên của Anh ở Bắc Mỹ.
Sau khi bị kết tội phản quốc, vua Charles I bị chém đầu tại Whitehall, London; nước Anh trở thành chế độ cộng hòa.
Chế độ quân chủ được khôi phục ở Anh, Scotland và Ireland khi Charles II trở về London lên ngôi.
Vua James II bị phế truất; William III và Mary II lên ngôi, và Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1689 hạn chế quyền lực của nhà vua, củng cố vai trò của Nghị viện.
Vương quốc Anh và Vương quốc Scotland hợp nhất thành Vương quốc Đại Anh với một nghị viện chung.
Binh lính Anh nổ súng vào đám đông ở Boston, làm chết năm người, khiến căng thẳng giữa các thuộc địa và Anh gia tăng.
Những người thực dân phản đối thuế của Anh đổ toàn bộ hàng trà của Công ty Đông Ấn xuống cảng Boston.
Quốc hội Lục địa thông qua Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố 13 thuộc địa tách khỏi Anh.
Hạm đội gồm 11 tàu chở tù nhân do Arthur Phillip chỉ huy đến Sydney Cove, lập thuộc địa hình sự New South Wales, khu định cư lâu dài đầu tiên của người châu Âu ở Úc.
Sứ đoàn Anh do Lord Macartney dẫn đầu yết kiến vua Càn Long nhưng không đạt được thỏa thuận mở rộng thương mại.
Các cường quốc châu Âu họp tại Viên để tái lập trật tự sau các cuộc chiến tranh Napoléon, vạch lại bản đồ châu Âu và thiết lập thế cân bằng quyền lực.
Stamford Raffles ký hiệp ước lập thương điếm của Công ty Đông Ấn Anh ở Singapore, khởi đầu sự phát triển của thành phố cảng hiện đại.
Victoria kế vị ngai vàng Anh; triều đại kéo dài hơn 63 năm của bà gắn liền với đỉnh cao của Đế quốc Anh.
Đại diện Hoàng gia Anh và nhiều tù trưởng Māori ký Hiệp ước Waitangi, văn kiện nền tảng của New Zealand; sự khác biệt giữa bản tiếng Anh và tiếng Māori vẫn gây tranh luận đến nay.
Karl Marx và Friedrich Engels xuất bản tại London cuốn sách nhỏ trình bày học thuyết đấu tranh giai cấp, trở thành một trong những văn bản chính trị có ảnh hưởng nhất.
Sau cuộc khởi nghĩa 1857, Đạo luật Chính phủ Ấn Độ chuyển quyền cai trị từ Công ty Đông Ấn sang Vương quyền Anh; Đế quốc Mogul cũng chính thức cáo chung.
Các thuộc địa Canada, Nova Scotia và New Brunswick hợp nhất thành Lãnh thổ tự trị Canada, mở đầu nhà nước Canada hiện đại.
Các cường quốc châu Âu sắp xếp lại vùng Balkan sau Chiến tranh Nga – Thổ Nhĩ Kỳ, công nhận độc lập của Serbia, Montenegro và Romania.
Các cường quốc châu Âu họp tại Berlin để đặt ra quy tắc chiếm hữu thuộc địa ở châu Phi, thúc đẩy cuộc "tranh giành châu Phi" mà không có đại diện người châu Phi tham dự.
Anh chiếm Mandalay và phế truất vua Thibaw, chấm dứt nhà Konbaung và sáp nhập toàn bộ Miến Điện vào Ấn Độ thuộc Anh.
Chính phủ Anh công khai ủng hộ việc thành lập một 'ngôi nhà dân tộc cho người Do Thái' ở Palestine, đồng thời cam kết không phương hại quyền dân sự và tôn giáo của các cộng đồng không phải Do Thái.
Quân Anh dưới quyền Tướng Reginald Dyer nổ súng vào đám đông không vũ trang ở Amritsar, giết hàng trăm người và làm bùng lên phong trào chống thực dân.
Theo Hiệp ước Anh – Ireland, Nhà nước Tự do Ireland được thành lập như một quốc gia tự trị trong Khối Thịnh vượng chung Anh.
Anh, Pháp, Ý và Đức đồng ý để Đức sáp nhập vùng Sudetenland của Tiệp Khắc, đỉnh điểm của chính sách nhân nhượng đối với Hitler.
Roosevelt, Churchill và Stalin họp tại Yalta để bàn về việc tổ chức lại châu Âu và thế giới sau chiến tranh.
Tòa án quân sự quốc tế xét xử các nhà lãnh đạo chủ chốt của Đức Quốc xã về tội ác chiến tranh và tội ác chống lại loài người.
Tại Fulton, Missouri, Winston Churchill tuyên bố một "bức màn sắt" đã buông xuống ngang qua châu Âu, một dấu mốc biểu tượng của buổi đầu Chiến tranh Lạnh.
Ấn Độ thuộc Anh bị chia tách thành hai quốc gia độc lập là Ấn Độ và Pakistan, kéo theo những cuộc di cư và bạo lực quy mô lớn.
Liên bang Miến Điện giành độc lập khỏi Anh và chọn không gia nhập Khối Thịnh vượng chung.
Ceylon trở thành một quốc gia tự trị độc lập trong Khối Thịnh vượng chung, chấm dứt thời kỳ thuộc địa Anh.
Hoa Kỳ ban hành chương trình viện trợ kinh tế quy mô lớn giúp tái thiết các nước Tây Âu sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Liên Xô phong tỏa đường bộ và đường sắt vào Tây Berlin; các nước phương Tây đáp trả bằng cầu hàng không tiếp tế cho thành phố trong gần một năm.
Mười hai nước Bắc Mỹ và Tây Âu ký Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương tại Washington, lập ra liên minh phòng thủ tập thể NATO.
Sau khi Nasser quốc hữu hóa kênh đào Suez, Israel, Anh và Pháp tấn công Ai Cập nhưng phải rút quân dưới áp lực của Mỹ và Liên Xô.
Bờ biển Vàng thuộc Anh trở thành nước Ghana độc lập dưới sự lãnh đạo của Kwame Nkrumah, quốc gia châu Phi hạ Sahara đầu tiên thoát khỏi ách thuộc địa sau Thế chiến II.
Tunku Abdul Rahman tuyên bố độc lập của Liên bang Malaya khỏi Anh tại sân vận động Merdeka ở Kuala Lumpur.
Kenya độc lập khỏi Anh sau cuộc khởi nghĩa Mau Mau, với Jomo Kenyatta là thủ tướng và sau đó là tổng thống đầu tiên.
Sau chiến tranh du kích và Hiệp định Lancaster House, Rhodesia trở thành nước Zimbabwe độc lập được quốc tế công nhận, với Robert Mugabe làm thủ tướng.
Hiệp ước Maastricht có hiệu lực, chính thức thành lập Liên minh châu Âu và đặt nền móng cho đồng tiền chung.
Anh chuyển giao chủ quyền Hồng Kông cho Trung Quốc theo nguyên tắc 'một quốc gia, hai chế độ'.
Cử tri Vương quốc Anh bỏ phiếu với tỷ lệ khoảng 52% ủng hộ việc rời khỏi Liên minh châu Âu.
Vương quốc Anh trở thành quốc gia đầu tiên rời khỏi Liên minh châu Âu, sau 47 năm là thành viên.