Cuộc bành trướng của các dân tộc Nam Đảo
Khoảng 3000 TCN, các cư dân nói ngôn ngữ Nam Đảo bắt đầu di cư từ Đài Loan xuống Philippines và Indonesia, rồi dần lan ra khắp Thái Bình Dương và tới tận Madagascar.
Khoảng 3000 TCN, các cư dân nói ngôn ngữ Nam Đảo bắt đầu di cư từ Đài Loan xuống Philippines và Indonesia, rồi dần lan ra khắp Thái Bình Dương và tới tận Madagascar.
Theo truyền thống sử học Việt Nam, Kinh Dương Vương lập nhà Hồng Bàng năm 2879 TCN; các Vua Hùng trị vì nước Văn Lang. Niên đại này mang tính truyền thuyết.
Nền văn hóa thời đại đồng thau – sắt sớm ở đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ, nổi tiếng với trống đồng.
Thục Phán (An Dương Vương) hợp nhất Âu Việt và Lạc Việt, lập nước Âu Lạc và xây thành Cổ Loa. Niên đại 257 TCN theo truyền thống.
Triệu Đà, vua nước Nam Việt, đánh chiếm Âu Lạc, sáp nhập vào Nam Việt; sử cũ thường ghi năm 179 TCN.
Nhà Hán diệt nước Nam Việt năm 111 TCN và đặt các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, mở đầu thời kỳ Bắc thuộc lâu dài.
Trưng Trắc và Trưng Nhị khởi nghĩa chống nhà Đông Hán, giành quyền tự chủ cho Giao Chỉ. Trưng Trắc xưng vương.
Phù Nam nổi lên ở hạ lưu sông Mê Kông, trở thành trung tâm thương mại hàng hải giữa Ấn Độ và Trung Quốc.
Khu Liên nổi dậy chống nhà Hán ở quận Nhật Nam, lập nước Lâm Ấp, tiền thân của vương quốc Chăm Pa ở miền Trung Việt Nam.
Triệu Thị Trinh lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ của nhà Đông Ngô ở Cửu Chân.
Sau khi đánh đuổi quân nhà Lương, Lý Bí xưng Lý Nam Đế và đặt quốc hiệu là Vạn Xuân.
Nhà sư Trung Quốc Nghĩa Tịnh dừng chân ở Srivijaya (Palembang) để học tiếng Phạn, ghi nhận nơi đây là trung tâm Phật học và thương mại hàng hải.
Mai Thúc Loan nổi dậy chống nhà Đường ở Hoan Châu, xưng đế (Mai Hắc Đế) trước khi bị đàn áp.
Vương triều Sailendra cho xây dựng Borobudur ở miền Trung Java, công trình Phật giáo lớn nhất thế giới.
Jayavarman II tự xưng chakravartin (vua của vũ trụ) trên núi Kulen, tuyên bố độc lập khỏi Java và mở đầu Đế quốc Khmer.
Nhân lúc nhà Đường suy yếu, hào trưởng Khúc Thừa Dụ chiếm phủ thành Tống Bình, tự xưng Tiết độ sứ, mở đầu thời kỳ tự chủ.
Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng bằng trận địa cọc ngầm, chấm dứt hơn một nghìn năm Bắc thuộc.
Sau chiến thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa, mở đầu thời kỳ độc lập lâu dài.
Sau khi nhà Ngô suy vi, đất nước bị chia cắt giữa các sứ quân cho đến khi Đinh Bộ Lĩnh thống nhất năm 968.
Ngô Quyền mất; triều Ngô suy yếu do tranh chấp nội bộ.
Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, lên ngôi hoàng đế, đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt và đóng đô ở Hoa Lư.
Hoàng đế Đinh Tiên Hoàng và thái tử Đinh Liễn bị Đỗ Thích sát hại tại kinh đô Hoa Lư.
Trước nguy cơ nhà Tống xâm lược, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn được tôn lên ngôi hoàng đế, lập nhà Tiền Lê.
Quân Đại Cồ Việt do Lê Hoàn chỉ huy đánh bại cuộc xâm lược của nhà Tống, trong đó có trận trên sông Bạch Đằng.
Lý Công Uẩn được triều thần tôn lên ngôi, lập nhà Lý, triều đại kéo dài hơn hai thế kỷ.
Lý Công Uẩn ban Chiếu dời đô, chuyển kinh đô từ Hoa Lư về Đại La và đổi tên thành Thăng Long, nay là Hà Nội.
Hạm đội của vua Rajendra I nhà Chola tập kích các cảng của Srivijaya trên eo biển Malacca, làm suy yếu đế chế hàng hải này.
Anawrahta lên ngôi ở Pagan, sau đó thống nhất lưu vực sông Irrawaddy và đưa Phật giáo Thượng tọa bộ thành quốc giáo của Miến Điện.
Vua Lý Thái Tông cho dựng chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) ở Thăng Long, một biểu tượng của Hà Nội.
Vua Lý Thánh Tông đổi quốc hiệu từ Đại Cồ Việt thành Đại Việt, tên gọi được dùng trong hầu hết các thế kỷ sau.
Vua Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu ở Thăng Long để thờ Khổng Tử, đánh dấu sự đề cao Nho học.
Vua Lý Nhân Tông mở khoa thi Minh kinh bác học, khoa thi đầu tiên tuyển chọn quan lại; Lê Văn Thịnh đỗ đầu.
Để phá thế chuẩn bị xâm lược của nhà Tống, Lý Thường Kiệt đem quân đánh các châu Khâm, Liêm và Ung (1075–1076).
Nhà Lý lập Quốc Tử Giám bên cạnh Văn Miếu, được coi là trường đại học đầu tiên của Việt Nam.
Lý Thường Kiệt chặn đứng cuộc xâm lược của nhà Tống trên sông Như Nguyệt (sông Cầu). Theo truyền thống, bài thơ "Nam quốc sơn hà" gắn với trận đánh này.
Vua Suryavarman II cho xây dựng Angkor Wat, ban đầu là đền thờ thần Vishnu, nay là công trình tôn giáo lớn nhất thế giới.
Jayavarman VII trở thành vua Khmer, đưa đế quốc lên đỉnh cao lãnh thổ và cho xây dựng Angkor Thom cùng đền Bayon.
Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh (Trần Thái Tông); quyền lực thực tế nằm trong tay Trần Thủ Độ.
Các thủ lĩnh người Thái giành độc lập khỏi Khmer và lập nên Sukhothai, thường được coi là nhà nước Thái đầu tiên.
Quân Mông Cổ do Uriyangqadai chỉ huy tiến vào Thăng Long nhưng phải rút lui sau trận Đông Bộ Đầu.
Sử gia Lê Văn Hưu hoàn thành bộ Đại Việt sử ký, bộ quốc sử chính thức đầu tiên của Việt Nam.
Quân Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy xâm lược Đại Việt; dưới sự lãnh đạo của Trần Hưng Đạo, quân Trần phản công và đẩy lui quân xâm lược.
Trần Hưng Đạo tiêu diệt thủy quân Nguyên – Mông trên sông Bạch Đằng, kết thúc lần xâm lược thứ ba của nhà Nguyên.
Raden Wijaya lợi dụng cuộc viễn chinh của quân Nguyên vào Java để lập nên Majapahit, đế quốc Ấn Độ giáo – Phật giáo hùng mạnh nhất quần đảo Indonesia.
Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, vị chỉ huy ba lần kháng chiến chống Nguyên Mông, qua đời.
Công chúa Huyền Trân được gả cho vua Chế Mân của Chăm Pa; đổi lại Đại Việt nhận hai châu Ô, Lý (vùng Quảng Trị – Thừa Thiên Huế).
Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông, người sáng lập Thiền phái Trúc Lâm, viên tịch trên núi Yên Tử.
Vua Ramathibodi I lập kinh đô Ayutthaya, mở đầu vương quốc Xiêm tồn tại hơn bốn thế kỷ.
Fa Ngum thống nhất các mường Lào thành vương quốc Lan Xang (Triệu Voi), tiền thân của nước Lào ngày nay.
Quân Chăm Pa do Chế Bồng Nga chỉ huy tiến vào cướp phá kinh thành Thăng Long.